Tài trợ | Test

SGL

Landscape Architecture

sgl.com.vn

Tài trợ | Test

Cố vấn AI

Hỏi đáp cảnh quan · gợi ý chọn cây

Miễn phí trên canhquan.net

Tài trợ | Test

Kiến Trẻ

Sân chơi của người mới vào nghề

canhquan.net/tap-chi

TRI THỨC

Công viên địa chất toàn cầu UNESCO ở Việt Nam: Đồng Văn, Non Nước Cao Bằng, Đắk Nông, Lạng Sơn — cảnh quan và cách làm du lịch

Việt Nam hiện có bốn Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO: Cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang, công nhận năm 2010), Non nước Cao Bằng (Cao Bằng, công nhận năm 2018), Đắk Nông (Đắk Nông, công nhận năm 2020) và Lạng Sơn (Lạng Sơn, công nhận năm 2025). Bốn nơi này không được xếp chung vì có địa hình giống nhau — một bên là cao nguyên đá vôi ở độ cao trên dưới 1.000-1.600 mét, một bên là vùng karst trưởng thành với thác và hang động, một bên là cao nguyên bazan phủ lên nền đá cổ, một bên là dải núi đá vôi và núi lửa cổ ở biên giới phía Bắc. Điểm chung nằm ở cách một danh hiệu geopark buộc phải vận hành: theo định nghĩa của UNESCO về mạng lưới Global Geoparks, một công viên địa chất toàn cầu là vùng địa lý thống nhất, nơi các địa điểm và cảnh quan có ý nghĩa địa chất quốc tế được quản lý theo ba trụ cột không tách rời: bảo tồn, giáo dục, phát triển bền vững. Thiếu một trụ, danh hiệu không giữ được — UNESCO thẩm định lại định kỳ bốn năm một lần, không phải cấp một lần rồi thôi.

Với người làm cảnh quan, cái khác nhau giữa bốn nơi này quan trọng hơn cái giống nhau. Một cao nguyên đá vôi cần cách giữ mặt đường an toàn qua vách dựng đứng khác hẳn cách giữ một hệ hang động dung nham khỏi bị chạm vỡ. Một dải thác biên giới cần hạ tầng ngắm cảnh khác một dải núi đá có 200 hang khảo cổ.

Công viên địa chất toàn cầu UNESCO ở Việ — Thác Gia Long nhỏ đổ xuống hồ nước xanh
Thác Gia Long giữa đá bazan. Ảnh: Y Kpia Mlo / commons — CC BY-SA 3.0

Đồng Văn: cao nguyên đá vôi và con đường độc đạo giữ toàn bộ hạ tầng tham quan

Cao nguyên đá Đồng Văn được Hội đồng tư vấn Mạng lưới Công viên Địa chất Toàn cầu (GGN) công nhận ngày 3/10/2010, trở thành công viên địa chất đầu tiên của Việt Nam. Diện tích khoảng 2.356 km², trải trên bốn huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc của tỉnh Hà Giang, ở độ cao trung bình 1.000-1.600 mét so với mực nước biển. Nền địa chất là đá vôi hình thành qua nhiều thời kỳ, mang dấu ấn các giai đoạn phát triển vỏ Trái Đất — cao nguyên đã ba lần được tái thẩm định giữ danh hiệu.

Địa hình đặc trưng nhất là dạng núi đá tai mèo xếp lớp, xen giữa là các thung lũng hẹp và ruộng bậc thang nhỏ ken trong hốc đá — nơi người Mông canh tác ngô trên đất vun từng gùi vào khe đá. Hạ tầng tham quan gần như trùng khít với một tuyến đường duy nhất: con đường Hạnh Phúc, nối thị xã Hà Giang qua Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn tới Mèo Vạc, hoàn thành bằng sức người trong nhiều năm ở thập niên 1960. Dọc tuyến này có hai điểm ngắm cảnh mang tính biểu tượng của cả công viên: đèo Mã Pí Lèng — một trong những đèo hiểm trở nhất miền Bắc, nhìn xuống sông Nho Quế uốn dưới vách đá dựng đứng — và cực Bắc Lũng Cú, nơi sông Nho Quế bắt đầu đoạn chảy vào lãnh thổ Việt Nam qua hẻm Tu Sản rồi men theo chân đèo Mã Pí Lèng.

Công viên địa chất toàn cầu UNESCO ở Việ — Toàn cảnh đèo Mã Pí Lèng nhìn từ trên
Đèo Mã Pí Lèng nhìn xuống sông Nho Quế. Ảnh: Khánh Hmoong / commons — CC BY 2.0
Công viên địa chất toàn cầu UNESCO ở Việ — Nhìn thẳng xuống hẻm Tu Sản
Hẻm Tu Sản, sông Nho Quế giữa vách đá vôi. Ảnh: NKSTTSSHNVN / commons — CC BY-SA 4.0

Vì toàn bộ tuyến tham quan chính chạy trên một con đường độc đạo bám sườn núi đá vôi, hạ tầng ngắm cảnh ở Đồng Văn chủ yếu là các điểm dừng xe mở rộng vệ đường, lan can chắn ở khúc cua sát vực, và các trạm dừng có bảng diễn giải đặt tại vị trí đã có sẵn khoảng bằng phẳng — không mở rộng đường bằng cách cắt thêm vào vách đá. Cách làm này khác một công viên cảnh quan bình thường ở chỗ: đường đi không phải hạ tầng phụ trợ, nó chính là trục xương sống duy nhất nối toàn bộ các geosite, nên mọi rủi ro về an toàn giao thông trên đèo dốc trở thành một phần của bài toán quy hoạch geopark, không tách rời được.

Non nước Cao Bằng: vùng karst trưởng thành với thác biên giới và hệ hang-hồ ngầm

Công viên địa chất Non nước Cao Bằng được UNESCO công nhận ngày 12/4/2018, trở thành công viên địa chất toàn cầu thứ hai của Việt Nam. Diện tích hiện nay hơn 3.683 km², tập trung ở bốn huyện Trà Lĩnh, Quảng Uyên, Trùng Khánh, Hạ Lang. Các nhà khoa học đã phát hiện, đánh giá và đề xuất xếp hạng trên 130 điểm di sản địa chất, phần lớn mang niên đại trên 400 triệu năm — địa hình ở đây được xem là một vùng karst đã qua giai đoạn trưởng thành, khác cao nguyên đá vôi còn tương đối trẻ ở Đồng Văn.

Điểm cảnh quan trung tâm của công viên là thác Bản Giốc ở huyện Trùng Khánh — dòng thác đổ trên biên giới Việt-Trung, thường được nhắc tới là một trong những thác nước tự nhiên lớn và đẹp thuộc nhóm hàng đầu thế giới theo cách xếp hạng phổ biến trên báo du lịch. Gần đó là động Ngườm Ngao, một hệ hang thạch nhũ đã khai thác du lịch nhiều năm, và cụm hồ-sông-hang ngầm Thăng Hen ở huyện Trà Lĩnh — một hệ hồ karst nối với nhau qua các đường nước ngầm, nổi lên rồi biến mất theo mùa. Bên cạnh đó còn có Hang Dơi (Hạ Lang) và núi Mắt Thần, một khối núi có hốc xuyên thủng tự nhiên.

Công viên địa chất toàn cầu UNESCO ở Việ — Cận cảnh hai tầng thác Bản Giốc đổ trắng
Thác Bản Giốc hai tầng. Ảnh: Adam Jones from Kelowna, BC, Canada / commons — CC BY-SA 2.0
Công viên địa chất toàn cầu UNESCO ở Việ — Bên trong động Ngườm Ngao
Lối đi có lan can trong động Ngườm Ngao. Ảnh: Adam Jones from Kelowna, BC, Canada / commons — CC BY-SA 2.0

Công viên đã tổ chức thành các tuyến du lịch riêng theo chủ đề, trong đó một tuyến mang tên khám phá vẻ đẹp thiên nhiên dẫn khách qua đúng ba điểm trên: thác Bản Giốc, động Ngườm Ngao, hồ Thăng Hen. Việc gom các geosite thành tuyến chủ đề, thay vì để khách tự chọn điểm rời rạc, giúp mỗi điểm dừng có một câu chuyện dẫn dắt sang điểm kế tiếp — cách làm này khác hẳn kiểu quy hoạch điểm đến đơn lẻ, đòi hỏi biển chỉ dẫn và bảng diễn giải phải nhất quán về mạch nội dung xuyên suốt cả tuyến, không phải mỗi điểm một kiểu biển riêng.

Công viên địa chất toàn cầu UNESCO ở Việ — Toàn cảnh rộng thác Bản Giốc với dãy núi
Thác Bản Giốc và khu dịch vụ bên bờ. Ảnh: Adam Jones from Kelowna, BC, Canada / commons — CC BY-SA 2.0

Đắk Nông: hệ hang động dung nham và giá trị nằm dưới lòng đất

Công viên Địa chất Đắk Nông được công nhận Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO ngày 7/7/2020, tại kỳ họp lần thứ 209 của Hội đồng chấp hành UNESCO, và được tái thẩm định giữ danh hiệu giai đoạn 2024-2027. Diện tích khoảng 4.760 km², trải trên các huyện Krông Nô, Cư Jút, Đắk Mil, Đắk Song, Đắk Glong và thành phố Gia Nghĩa. Khác ba nơi còn lại, giá trị chính của Đắk Nông không nằm trên mặt đất mà nằm trong lòng đất: hệ thống hang động núi lửa ở khu vực Đray Sáp – Chư B'luk gồm khoảng 50 hang, hình thành từ các dòng dung nham nguội đông ở lớp ngoài rồi rút ruột bên trong.

Công viên địa chất toàn cầu UNESCO ở Việ — Ảnh flycam miệng núi lửa Nâm Kar nhìn từ
Miệng núi lửa Nâm Kar nhìn từ trên cao. Ảnh: dicungTieuDaoTu / flickr — CC BY 2.0
Công viên địa chất toàn cầu UNESCO ở Việ — Toàn cảnh thác Đray Sáp nhìn từ xa
Thác Đray Sáp nhìn từ xa. Ảnh: Dotuanhungdaklak at Vietnamese Wikipedia / commons — CC BY-SA 3.0

Hang dài nhất, ký hiệu C7, hiện được ghi nhận dài 1.266 mét, theo số liệu công bố tại Hội nghị quốc tế hang động núi lửa lần thứ 20 tổ chức tại Đắk Nông ngày 13/12/2022, sau khi khảo sát tìm thêm một nhánh dài 199 mét nối vào hang chính — số liệu này khiến hang C7 được các báo trong nước gọi là hang động núi lửa dài nhất Đông Nam Á. Khảo sát khoa học hệ hang này bắt đầu khoảng năm 2007, kết quả công bố chính thức năm 2014, là kết quả phối hợp giữa Bảo tàng Địa chất Việt Nam, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản, và các nhà khoa học Nhật Bản.

Vì cấu trúc dung nham bên trong hang — các dải nhũ đá bazan, dấu vết dòng chảy in trên vách — là kết cấu mỏng manh không phục hồi được khi chạm vỡ, hạ tầng tham quan ở đây khác cả ba nơi còn lại: lối đi trong hang cần cố định bằng sàn nâng hoặc dây dẫn hướng, không để khách tự do chọn đường trên nền đá; điểm dừng diễn giải nên đặt ở những khoảng trống tự nhiên có sẵn, tránh đào mở rộng không gian; sức chứa mỗi geosite theo khung giờ nên là một thông số được tính toán và công bố công khai, không phải giới hạn mềm linh động theo mùa cao điểm.

Lạng Sơn: dải núi đá vôi biên giới với gần 200 hang và bốn tuyến 38 điểm

Công viên địa chất Lạng Sơn là geopark thứ tư của Việt Nam, được UNESCO công bố công nhận tại kỳ họp lần thứ 221 ở Paris ngày 17/4/2025, cùng đợt với 15 geopark mới khác trên thế giới. Diện tích khoảng 3.900-4.842 km² tuỳ nguồn công bố, trải trên các huyện Bắc Sơn, Bình Gia, Văn Quan, Chi Lăng, Hữu Lũng và thành phố Lạng Sơn — tương đương khoảng 58% diện tích và 78% dân số toàn tỉnh. Hồ sơ đề cử được tỉnh Lạng Sơn phối hợp Uỷ ban Quốc gia UNESCO Việt Nam hoàn thiện và trình từ tháng 11/2023.

Địa hình chính là núi đá vôi karst dạng chóp ở khu vực Chi Lăng – Hữu Lũng, rừng nguyên sinh trên núi đá vôi ở Bắc Quỳnh – Bắc Sơn, và đỉnh Mẫu Sơn — được gọi là nóc nhà vùng Đông Bắc, nơi lộ ra hệ thống đứt gãy địa chất cổ. Công viên có khoảng 200 hang động, trong đó cụm Nhị Thanh – Tam Thanh ở thành phố Lạng Sơn là nơi kết hợp tín ngưỡng Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian bản địa trong cùng một hệ hang; các hang Thẩm Khuyên – Thẩm Hai (Bình Gia), di chỉ Hang Dơi (Bắc Sơn), Hang Gió (Chi Lăng) mang giá trị khảo cổ và văn hoá-lịch sử.

Công viên địa chất toàn cầu UNESCO ở Việ — Bên trong động Tam Thanh
Lối đi lát ván trong động Tam Thanh. Ảnh: [Tycho] / commons — CC BY-SA 3.0
Công viên địa chất toàn cầu UNESCO ở Việ — Toàn cảnh thung lũng Bắc Sơn nhìn từ núi
Thung lũng Bắc Sơn nhìn từ núi đá vôi. Ảnh: Hoang Giang Hai from Hanoi, Vietnam / commons — CC BY 2.0
Công viên địa chất toàn cầu UNESCO ở Việ — Nhìn từ đỉnh Mẫu Sơn xuống các dãy núi
Đỉnh Mẫu Sơn, mây phủ các dãy núi. Ảnh: Viethavvh at vi.wikipedia / commons — Public domain

Công viên đã hình thành bốn tuyến du lịch với tổng cộng 38 điểm tham quan, gộp chung dưới một chủ đề diễn giải xuyên suốt về sự tiến hoá của sự sống trên vùng đất này. Cách tổ chức này gần với mô hình của Non nước Cao Bằng — gom điểm rời rạc vào tuyến có chủ đề — nhưng với mật độ điểm dừng dày hơn nhiều do số lượng hang lớn, đòi hỏi hệ biển chỉ dẫn phải phân cấp rõ ràng: biển tuyến, biển từng điểm, và biển diễn giải chi tiết tại các hang có giá trị khảo cổ, tránh để khách lẫn lộn giữa một hang tín ngưỡng và một hang di chỉ khảo cổ chỉ vì cùng nằm trên một tuyến.

Jeju: một geopark biến diễn giải địa chất thành hạ tầng cộng đồng

Jeju Island UNESCO Global Geopark ở Hàn Quốc, công nhận từ tháng 10/2010, là ví dụ được UNESCO dẫn ra cho việc geotourism có thể tạo tác động thật ngoài số lượt khách. Theo trang chính thức của UNESCO về Jeju, một phân hiệu trường tiểu học nhỏ trên đảo được nâng cấp thành trường tiểu học chính thức năm 2021, nhờ dân số tăng khi du lịch bền vững kéo người dân quay về sinh sống và làm việc tại chỗ. Geopark này duy trì các tuyến đường mòn diễn giải — như rừng Seonheul Gotjawal, tuyến Gyorae Samdasoo — do chính người dân địa phương được đào tạo để dẫn khách, thay vì thuê hướng dẫn viên bên ngoài.

Điểm đáng đối chiếu với các geopark Việt Nam không phải quy mô hang động — Jeju nổi tiếng vì hệ thống ống dung nham trên đảo núi lửa, dạng địa hình gần với hang Đắk Nông — mà là cách geopark này biến hoạt động diễn giải thành sinh kế lâu dài cho cộng đồng sống trong ranh giới của nó, thay vì chỉ dừng ở bán vé tham quan. Trường học được giữ lại, tuyến đường do người bản địa dẫn — đó là chỉ dấu cụ thể của trụ cột phát triển bền vững, không phải một khẩu hiệu.

Thiết kế cảnh quan cho geopark: biển diễn giải, điểm dừng, ranh bảo tồn

Bốn geopark trên có địa hình rất khác nhau, nhưng bài toán thiết kế cảnh quan lặp lại ở ba việc. Thứ nhất là hệ biển diễn giải: một khối đá bazan xếp lớp, một vách đá vôi, hay một dải thạch nhũ không tự kể câu chuyện của nó — phải có bảng dịch cấu tạo địa chất thành một trình tự thời gian người không học địa chất cũng hiểu được, đặt đúng điểm nhìn, không chắn tầm mắt về phía đối tượng đang diễn giải. Thứ hai là điểm dừng chân: nên đặt ở vị trí đã có sẵn khoảng trống hoặc nền đất ổn định, tránh mở rộng không gian bằng cách đào hay phá cấu trúc địa chất xung quanh, vì phần lớn giá trị geopark nằm ở chính bề mặt đá chưa bị can thiệp.

Thứ ba là ranh giới giữa khu được tiếp cận tự do và khu chỉ được nhìn từ xa. Với các geosite dễ tổn thương — hang động, hồ karst theo mùa, vách đá dựng đứng cạnh đường độc đạo — lối đi cần cố định bằng sàn nâng, dây dẫn hướng hoặc lan can, thay vì để khách tự do chọn đường. Sức chứa theo khung giờ, nếu có công bố, cần là một con số tính toán được, không phải giới hạn linh động tuỳ mùa cao điểm. Cấu trúc càng được quảng bá đẹp, càng thu hút đông người vào chụp ảnh, tần suất tiếp xúc trực tiếp của con người với cấu trúc đó càng tăng — hai vai trò bảo tồn di sản địa chất và làm sinh kế du lịch chỉ đứng vững cùng nhau khi có kiểm soát lượng khách và một đội ngũ diễn giải viên đủ trình độ.

Bài học chung: bốn cách tổ chức, một nguyên tắc không đổi

Đồng Văn gói toàn bộ hạ tầng vào một con đường độc đạo bám sườn núi đá vôi. Non nước Cao Bằng gom điểm rời rạc thành tuyến chủ đề quanh thác, hang, hồ. Đắk Nông đặt trọng tâm bảo tồn vào phần không nhìn thấy được từ trên mặt đất. Lạng Sơn nhân rộng mô hình tuyến-điểm lên quy mô 38 điểm với mật độ hang dày hơn nhiều. Bốn cách tổ chức khác nhau, nhưng cùng phải trả lời một câu hỏi như nhau mỗi khi thẩm định lại danh hiệu: geopark này có đang giữ đủ cả ba trụ cột bảo tồn, giáo dục, phát triển bền vững hay không, và câu trả lời không phải bằng số lượt khách, mà bằng việc geosite còn nguyên vẹn, cộng đồng quanh đó còn sống được nhờ chính hoạt động diễn giải, và người dẫn khách còn đủ hiểu để biến một khối đá lạnh thành bằng chứng của một quá trình địa chất kéo dài.

Nguồn: canhquan.net

Ảnh bìa: Bich Le / commons — CC BY 3.0. Nguồn: canhquan.net.

8370 Lượt xem