Bãi đỗ vẽ đẹp trên mặt bằng mà xe không vào lọt là bãi đỗ hỏng. Bán kính quay xe không phải chuyện thẩm mỹ — thiếu nó thì xe cứu hoả không tiếp cận được đám cháy, xe rác không quay đầu được trong ngõ, khách phải de đi de lại giữa hai hàng xe.
Bài tổng hợp kích thước xe tiêu chuẩn, bán kính vòng quay 90 độ của từng loại xe, và kích thước các kiểu bãi đậu — kèm số hiệu tiêu chuẩn cho những chỗ tra được, và nói rõ chỗ nào là số liệu kỹ thuật tổng hợp chưa có số hiệu Việt Nam đi kèm.
Kích thước xe con dùng để tính bãi đỗ là gì ?
Một chỗ đậu xe con tiêu chuẩn được tính từ 4 đại lượng: chiều dài xe, chiều rộng xe, khoảng mở cửa tối thiểu và bán kính vòng quay. Bảng dưới lấy xe con phổ thông làm mẫu:
| Ký hiệu | Diễn giải | Mét |
|---|---|---|
| A | Chiều dài xe | 4.75 |
| B | Chiều rộng xe | 1.80 |
| C | Chiều cao xe | 1.70 |
| D | Khoảng mở cửa tối thiểu | 0.50 |
| E | Khoảng cách giữa 2 trục bánh xe | 2.90 |
| F | Khoảng cách từ đầu xe đến trục bánh trước | 0.90 |
| G | Khoảng cách từ đuôi xe đến trục bánh sau | 1.10 |
| H | Đường kính vòng quay xe | 13.0 |
| J | Khoảng cách từ tâm đường kính quay đến tường | 14.0 |
| K | Khoảng sáng gầm xe | 0.10 |
Bảng này là số liệu kỹ thuật tổng hợp cho xe con phổ thông, cùng họ với các bảng tra kích thước xe trong Architects' Data (Ernst Neufert) — sách xếp đường kính vòng quay xe con phổ thông ở khoảng 10–12 m, gần với cột H = 13,0 m ở đây. Không tra ra số hiệu TCVN riêng cho đúng bộ số liệu A–K này; bảng nên dùng như số tham khảo kỹ thuật, không phải trích dẫn nguyên văn một quy chuẩn.
Kích thước xe rác và xe tải chuyển nhà ảnh hưởng bán kính quay thế nào ?
Xe tải trọng nặng đi cùng nguyên lý: phía trước 1 bánh đơn, phía sau 2 bánh đôi, và khoảng cách giữa 2 trục bánh càng dài thì vòng quay càng rộng.
Xe rác tiêu biểu
Chiều dài xe rác 7.570 mm, chiều cao 2.400 mm. Từ đầu mũi xe đến tim trục bánh trước 1.450 mm, giữa 2 trục bánh trước–sau 3.870 mm. Bề rộng giữa 2 tim bánh trước 2.100 mm, giữa 2 tim bánh sau 1.850 mm — chính độ rộng bánh đôi phía sau này là thứ quyết định vòng quay xe rác rộng hơn xe con rất nhiều dù thân xe không dài hơn bao nhiêu.
Xe tải chở đồ nhà tiêu biểu
Chiều dài 9.570 mm, chiều cao 2.520 mm, từ đầu mũi đến trục bánh trước 1.290 mm, giữa 2 trục bánh 5.240 mm. Bề rộng 2 tim bánh trước 1.900 mm, 2 tim bánh sau 1.730 mm.


Bán kính vòng quay 90 độ của từng loại xe khác nhau ra sao ?
Khi xe rẽ vuông góc 90 độ, phần thân xe vung ra ngoài quỹ đạo bánh lái nhiều hơn hẳn lúc chạy thẳng. Ba đại lượng cần nhớ: B là bán kính vòng quay thật của xe, C là biên độ rộng thêm của làn đường khi xe cua, D là độ xê dịch góc cua tại điểm 1/4 vòng cung.
| Loại xe | A – ngang thân | B – bán kính quay | C – biên rộng làn | D – xê dịch góc cua | E – tâm đến cung 1/4 | F – 2 trục bánh |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Xe ô tô | 1.72 | 5.78 | 2.38 | 0.35 | 5.00 | 2.69 |
| Xe rác | 2.40 | 9.62 | 3.72 | 0.60 | 9.00 | 4.00 |
| Xe cứu hoả | 2.18 | 7.91 | 3.15 | 0.73 | 6.50 | 3.81 |
Cột B ở hàng xe ô tô (5,78 m) khớp với đúng khoảng bán kính vòng quay 5,75–6,00 m mà Neufert, Architects' Data ghi cho xe con cỡ tiêu chuẩn — nên bảng này tin được cho hàng xe con. Hàng xe rác và xe cứu hoả là số liệu kỹ thuật chuyên dụng theo cùng bộ tài liệu gốc, chưa đối chiếu được với số hiệu TCVN hay QCVN tương ứng, nên xem là số tham khảo.
Với xe cứu hoả, quy chuẩn Việt Nam đang áp dụng là QCVN 06:2022/BXD (An toàn cháy cho nhà và công trình) — quy chuẩn này quy định bán kính phục vụ của xe bơm chữa cháy (400 m khi có trụ nước cố định, 300 m khi dùng bơm di động), chứ không nêu trực tiếp bán kính vòng quay 90 độ của riêng đầu xe. Vòng quay thực tế của một xe cứu hoả vẫn phải tính theo thông số xe cụ thể mà đội chữa cháy địa phương đang dùng.
Kích thước bãi đậu xe vuông góc, chéo góc và song song khác nhau chỗ nào ?
Bãi đậu thông dụng
Chiều dài chỗ đậu L dao động 4,75–5,5 m. Chiều rộng M chia theo mục đích: loại tiêu chuẩn 2,4–2,75 m, loại đậu ngắn hạn 2,3–2,6 m, loại đậu dài hạn 2,5–2,75 m, và chỗ dành cho người khuyết tật 3–3,5 m. Lối đi ô tô N rộng 6–9,15 m nếu chạy 1 chiều, 6,95–10,7 m nếu chạy 2 chiều; bề rộng tiêu chuẩn cả bãi P là 15,5–20,1 m.
QCVN 13:2018/BXD (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Gara ô-tô) quy định chỗ đậu xe con tối thiểu 5,0 × 2,3 m, diện tích tính cả phần mở cửa tối thiểu 25 m² một chỗ, và chỗ dành riêng cho người khuyết tật dùng xe lăn rộng tối thiểu 3,5 m. Đối chiếu thì cột M loại ngắn hạn (2,3 m) và cột dành cho người khuyết tật (3–3,5 m) ở bảng trên đúng theo quy chuẩn này; các cột còn lại là biên độ rộng hơn mức tối thiểu, tuỳ cấp công trình.
Bãi đậu chéo góc 45 độ
Trong nhà: cạnh A 3,0 m, bề dọc B 4,6 m, bề ngang C 2,3 m, biên D 3,26 m, lối đi E 5,0 m, khoảng cách trục F 2,8 m. Ngoài trời rộng hơn một chút: A 3,39 m, B 5,5 m, C 2,4 m, D 3,89 m, E 5,5 m, F 2,8–3,0 m — chênh lệch trong/ngoài trời chủ yếu do xe ngoài trời cần thêm biên an toàn khi mưa ướt, tầm nhìn kém hơn trong hầm có đèn.
Bãi đậu song song
Trong nhà: A 5,8 m, B 4,6 m, C 2,2–2,3 m. Ngoài trời: A 6,1–6,7 m, B 5,5 m, C 2,4 m. Kiểu song song tốn chiều dài nhất nhưng lối đi hẹp nhất trong ba kiểu — hợp với mặt tiền phố hẹp, không hợp với bãi cần quay vòng nhanh.


Bốn cách bố trí hay dùng nhất: đậu vuông góc thông dụng cần ô rộng 5,5 m, lối đi 6 m giữa 2 hàng để đủ bán kính ra vào; đậu vuông góc lối hẹp thì ô rút còn 3 m nhưng lối đi chỉ cần 4 m; đậu chéo 45 độ đấu lưng cần cạnh góc vuông 8,5 m và lối đi 4 m; đậu chéo 45 độ kiểu chạy xuyên qua thì cạnh góc vuông rút còn 6 m, lối đi chỉ cần 2,5 m. Càng nghiêng góc thì lối đi càng hẹp lại được, đổi lại số ô trên cùng một chiều dài mặt bằng giảm đi.


Giàn nâng xe cần khoảng trống tối thiểu bao nhiêu ?
Giàn nâng 2 hoặc 4 xe di chuyển từng chiếc cần chiều dài lọt lòng tối thiểu 5,4 m một gian và chiều cao từ sàn hầm đến sàn liền kề 4,5 m. Giàn nâng 2 tầng đặt ngầm rút chiều dài chỗ đậu còn 5,1 m, chiều cao từ sàn hầm lên tầng xe thứ 2 là 5,2 m, mỗi tầng xe cao 1,8 m. Giàn nâng 3 tầng vẫn giữ chiều dài 5,1 m một gian nhưng chiều cao từ sàn hầm lên nóc sàn tầng 3 tăng lên 9,3 m.
Ba mức 4,5 m — 5,2 m — 9,3 m tăng gần như tuyến tính theo số tầng, vì mỗi tầng xe cộng thêm đúng phần chiều cao xe cộng khe cơ khí của giàn nâng — đây là chỗ hay bị tính thiếu khi lên phương án tầng hầm, vì người thiết kế hay lấy chiều cao thông thuỷ tầng hầm áp cho cả cụm giàn nâng.


Bãi đậu xe buýt tính kích thước ra sao ?
Ba chiều dài xe buýt phổ biến là 7,2 m, 10 m và 12 m; chiều rộng và chiều cao gần như giống nhau giữa các loại. Bãi đậu tiêu chuẩn cho ô vuông góc: chiều dài ô 12 m, chiều rộng ô 3,5 m, khoảng cách từ đầu mũi xe đến tường rào phía trước tối thiểu 14 m để xe de vào và chạy ra được. Ở góc 45 độ, chiều rộng ô vẫn 3,5 m nhưng chiều dài ô chỉ cần 11 m, khoảng lùi trước tường rào rút còn 8 m.
Chỗ thụt trên đường dành cho xe buýt dừng đón khách có kích thước riêng: bề thụt vào 2,6 m, cạnh góc vuông của đoạn đường xiên dài 16,2 m, cạnh song song cách lề đường tối thiểu 1 m. Một xe buýt đậu cần đoạn cạnh song song dài 12 m; từ chiếc thứ hai trở đi, mỗi xe thêm cộng dồn 1,3 m — tức 2 xe buýt liên tiếp cần 13,3 m.


Cách chọn bán kính quay cho đường nội bộ khu resort và khu ở
Đường nội bộ resort thường phục vụ ba nhóm xe khác hẳn nhau về vòng quay: xe con của khách, xe điện/xe buggy chở đồ, và xe chuyên dụng chỉ chạy vài lần một tuần — xe rác, xe cứu hoả, xe cứu thương. Sai ở chỗ hay lấy đúng bán kính xe con (khoảng 5,78 m theo bảng trên) để vẽ cả tuyến đường chính, rồi phát hiện xe rác hoặc xe cứu hoả không quay lọt khi công trình đã đổ móng.
Cách làm đúng thứ tự: xác định xe lớn nhất chắc chắn sẽ vào khu (thường là xe rác hoặc xe cứu hoả 4 m3 trở lên), lấy bán kính quay của xe đó cộng thêm biên an toàn 0,5–1 m cho sai số tay lái, rồi mới vẽ hình học đường và bo góc giao lộ theo con số đó. Ở đoạn cụt không có vòng xoay, phải bố trí riêng một khoảng quay đầu — nguyên tắc này khớp với yêu cầu của QCVN 06:2022/BXD về đường cho xe chữa cháy tiếp cận công trình, vốn đòi hỏi bãi quay xe ở cuối đường cụt khi đường không có lối vòng khép kín.
Ở khu ở thấp tầng chỉ có xe con ra vào thường xuyên, có thể hạ bán kính bo vỉa xuống gần với hàng xe ô tô trong bảng vòng quay 90 độ (B = 5,78 m), nhưng vẫn phải kiểm tra lại một lượt cho xe rác đi thu gom định kỳ — xe này không đi mỗi ngày nhưng vẫn phải đi lọt, nếu không toàn khu phải kéo thùng rác ra tận đường chính.
Sai lầm thường gặp khi bố trí bãi đậu xe không đủ bán kính quay
Lỗi hay gặp nhất là lấy kích thước ô đậu xe (chiều dài, chiều rộng) làm chuẩn duy nhất mà bỏ qua lối đi giữa hai hàng xe — một ô đậu đúng 5,5 m dài nhưng lối đi chỉ 4,5 m thì xe không đủ khoảng lùi để vào ô vuông góc, phải de đi de lại nhiều lần mới vào được.
Lỗi thứ hai là bố trí cột kết cấu hoặc bó vỉa ngay tại điểm 1/4 vòng cung khi xe rẽ 90 độ — đúng chỗ biên độ D bị xê dịch ra ngoài quỹ đạo bánh lái. Cột đặt lùi vào trong một chút theo lý thuyết không cản đường đi thẳng, nhưng cản đúng lúc xe đang cua.
Lỗi thứ ba là dùng chung một bán kính bo góc cho toàn bộ tuyến đường nội bộ, kể cả đoạn chỉ có xe con đi lẫn đoạn xe rác hoặc xe cứu hoả phải vào — bo góc đủ cho xe con quay êm nhưng xe rác phải đi chậm, đánh lái nhiều lần, có khi phải lùi ra để rẽ tiếp.
Lỗi thứ tư, riêng với giàn nâng xe ngầm: tính chiều cao tầng hầm theo chiều cao xe con (1,7 m) mà quên cộng thêm khe cơ khí của giàn nâng, dẫn tới giàn lắp xong đụng trần.
Vui lòng ghi "Nguồn: canhquan.net" khi sao chép.