Tài trợ | Test

SGL

Landscape Architecture

sgl.com.vn

Tài trợ | Test

Cố vấn AI

Hỏi đáp cảnh quan · gợi ý chọn cây

Miễn phí trên canhquan.net

Tài trợ | Test

Kiến Trẻ

Sân chơi của người mới vào nghề

canhquan.net/tap-chi

HƯỚNG DẪN

Chiếu sáng và hạ tầng cơ điện trong cảnh quan | Nguyên tắc thiết kế resort · Phần 17

Ban ngày khu nghỉ dưỡng bán cảnh. Ban đêm nó bán hai thứ đối nhau: đủ sáng để đi lại không vấp, và đủ tối để còn nhìn thấy trời. Hai yêu cầu ấy cãi nhau trên đúng một cây đèn, và chỗ hoà giải chúng không phải là gu thẩm mỹ mà là phân cấp — chỗ nào sáng mức nào, ghi lên bản vẽ, rồi giữ.

Phần này thuộc sê-ri Nguyên tắc thiết kế resort. Nó tiếp nối Phần 16 về cấp thoát nước, và có một điểm chung với Phần 15: thứ người ta dẫn ra nhiều nhất lại là thứ ít ai mở.

Quy chuẩn ai cũng dẫn, và câu tự khai nằm ở trang đầu của nó

Văn bản tiếng Việt duy nhất có bảng số chiếu sáng ngoài trời dùng được là QCVN 07-7:2023/BXD — Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình chiếu sáng. Nó thay bản 07-7:2016. Trước khi lấy bảng của nó, đáng đọc hai câu ngay đầu quy chuẩn, vì cả hai đều đi ngược cách nó đang được dùng.

Câu thứ nhất — mục 1.1.1, phạm vi điều chỉnh. Quy chuẩn này áp cho chiếu sáng đường giao thông đô thị, đường hầm, đường ngầm, các vùng xung đột giao thông, đường trong khu dân cư, trong công viên và vườn hoa, và nơi đón trả khách của sân ga, bến cảng, bến xe, bãi đỗ xe ngoài trời. Đường nội bộ của một khu nghỉ dưỡng tư nhân không nằm trong danh sách ấy.

Câu thứ hai — mục 1.1.3. Nguyên văn: các thiết bị của công trình chiếu sáng bao gồm trạm biến áp, cột đèn, hệ thống đường dây, tủ điều khiển và thiết bị chiếu sáng không thuộc quy chuẩn này. Nghĩa là cái quy chuẩn hay bị dẫn ra để đòi hỏi về cột đèn, về trạm biến áp, chính nó nói nó không quản những thứ đó.

Hai câu ấy không làm quy chuẩn mất giá trị. Chúng đặt lại đúng chỗ của nó: bảng tham chiếu tốt nhất hiện có bằng tiếng Việt cho độ rọi ngoài trời, chứ không phải điều kiện bắt buộc của một khu nghỉ dưỡng. Hồ sơ viết “theo QCVN 07-7:2023” cho toàn bộ phần điện cảnh quan là viết sai phạm vi, và người thẩm tra đọc kỹ sẽ hỏi.

Hai cột đối nhau: cột trái liệt kê những gì quy chuẩn quản theo mục 1.1.1, cột phải liệt kê những gì mục 1.1.3 nói là không thuộc quy chuẩn
Mục 1.1.1 liệt kê cái quy chuẩn quản; mục 1.1.3 liệt kê cái nó không quản — và cột phải đúng là những thứ hay được dẫn nó ra để quản. Đường nội bộ của khu nghỉ dưỡng tư nhân không nằm trong cột trái. Hình: canhquan.net

Bảng độ rọi: khoảng cách tám lần giữa bậc thang và lối đi vắng

Đây là bộ số dùng được, chép từ Bảng 8 của quy chuẩn, cho đường đi bộ và xe đạp trong công viên, vườn hoa và các khu vực khác — phân theo lưu lượng người, chứ không phân theo hạng khu nghỉ dưỡng. Ba cột là độ rọi mặt đường trung bình, độ rọi mặt đường tối thiểu, và độ rọi bán trụ.

Vị tríTrung bình E<sub>n,tb</sub>Tối thiểu E<sub>n,min</sub>Bán trụ E<sub>bt</sub>
Lối đi bộ, lưu lượng cao (trên 6 người/10 m²)15 lx5 lx5 lx
Lối đi bộ, lưu lượng trung bình (3–6 người/10 m²)8 lx4 lx3 lx
Lối đi bộ, lưu lượng thấp (từ 2 người/10 m² trở xuống)5 lx2 lx2 lx
Cầu thang bộ, cầu vượt40 lx20 lx10 lx
Hầm đi bộ — ban đêm40 lx20 lx10 lx
Hầm đi bộ — ban ngày100 lx50 lx25 lx

Con số đáng nhớ nhất trong bảng là khoảng cách tám lần: bậc thang cần 40 lx, lối đi vắng cần 5 lx. Rất ít hồ sơ cảnh quan thể hiện được chênh lệch ấy, và đó là lý do phần lớn khu nghỉ dưỡng ban đêm vừa chói ở chỗ không cần vừa tối ở đúng chỗ người ta vấp.

Hai chi tiết trong bảng hay bị đọc lướt. Một, độ rọi bán trụ không phải là số phụ: nó đo ánh sáng chiếu vào một vật đứng thẳng, tức đo việc có nhận ra mặt người đi ngược chiều hay không — chỉ tiêu an ninh, không phải chỉ tiêu thẩm mỹ. Hai, cột tối thiểu khống chế chỗ tối nhất giữa hai cây đèn, nên nó là cột quyết định khoảng cách đặt đèn, còn cột trung bình chỉ quyết công suất.

Với chỗ giao cắt, quy chuẩn tách riêng thành vùng xung đột giao thông ở Bảng 10: 30 lx cho vùng thuộc đường cấp A, B, C và 20 lx cho cấp D, E, độ đồng đều độ rọi 0,4. Kèm theo là một nguyên tắc dùng được ở mọi nơi mà không cần tra bảng — mục 2.6.3: chỗ giao cắt phải sáng hơn một cấp so với mức sáng nhất của các tuyến dẫn vào nó.

Sáu cột cao thấp khác nhau thể hiện độ rọi trung bình theo từng loại vị trí, từ 5 lux ở lối đi vắng tới 40 lux ở cầu thang bộ
Bậc thang cần 40 lux, lối đi vắng cần 5 — tám lần chênh nhau, và rất ít hồ sơ cảnh quan thể hiện được khoảng cách ấy. Số chép từ Bảng 8 và Bảng 10 QCVN 07-7:2023/BXD, và chúng là tham chiếu chứ không phải điều kiện bắt buộc của khu nghỉ dưỡng. Hình: canhquan.net
Cận cảnh một đèn cột thấp màu đen, đỉnh có chụp che tròn hắt ánh sáng xuống, đặt giữa khuôn viên cây cỏ
Đèn cột thấp có chụp che là cách giải bài toán chói bằng hình dạng đèn thay vì bằng công suất: nhìn không thấy bóng đèn, chỉ thấy mặt đất sáng. Ảnh: Derek Harper / Wikimedia Commons, CC BY-SA 2.0

Bốn chỗ trong phần cơ điện cảnh quan không có văn bản Việt Nam nào

Phần 15 đã dựng phép thử cho những con số trôi nổi: hỏi số hiệu văn bản, số điều, số bảng. Áp phép thử ấy vào phần cơ điện cảnh quan thì bốn chỗ trả lời được là không có, và chúng được kể ra đây đúng vì hồ sơ hay ghi như thể có.

Một — ô nhiễm ánh sáng. Không có quy định Việt Nam nào giới hạn phần ánh sáng hắt lên trời, hắt sang đất bên cạnh, hay giới hạn độ chói của đèn trang trí. Chuyện “giữ bầu trời tối” ở Việt Nam là cam kết tự nguyện của chủ đầu tư, không phải nghĩa vụ.

Hai — cấp bảo vệ IP cho đèn dưới nước. Đèn trong bể bơi và đài phun nước là chỗ nguy hiểm nhất của cả hệ điện ngoài trời, và không có tiêu chuẩn Việt Nam đang hiệu lực quy định riêng cho nó. Chỗ này phải viết theo tiêu chuẩn quốc tế và ghi rõ trong hồ sơ là đang viện dẫn tiêu chuẩn nước ngoài.

Ba — khoảng cách từ trạm biến áp và máy phát tới khu ngủ. Không có con số. Bài toán thật ở đây là tiếng ồn và đường xe tải vào thay thiết bị, nên nó được giải bằng cách đo và vẽ, không bằng cách tra.

Bốn — tiếng ồn máy phát. Có quy chuẩn tiếng ồn chung áp cho ranh khu vực, nhưng không có mức riêng cho máy phát dự phòng của khu nghỉ dưỡng và không có khoảng cách tối thiểu tương ứng.

Bốn chỗ trống ấy không phải lý do để bỏ trắng. Chúng là lý do để hồ sơ tự đặt ngưỡng và ghi rõ ngưỡng ấy lấy từ đâu — một câu “chỗ này không có quy định Việt Nam, dự án tự đặt mức X theo tài liệu Y” có giá trị hơn hẳn một bảng số không dẫn được nguồn.

Bảng bốn hàng, mỗi hàng một chỗ không có văn bản Việt Nam, kèm cột tra được gì và cột thì ghi gì vào hồ sơ
Bốn chỗ không có quy định Việt Nam, và không chỗ nào bỏ trắng được — nên bảng có thêm cột thứ ba: thì ghi gì vào hồ sơ. Một câu tự đặt ngưỡng kèm tên tài liệu có giá trị hơn hẳn một bảng số không dẫn được nguồn. Hình: canhquan.net
Dải Ngân Hà hiện rõ trên một thung lũng tối, không có ánh sáng nhân tạo nào ở gần
Giữ bầu trời tối là thứ bán được ở khu nghỉ dưỡng xa đô thị, nhưng ở Việt Nam nó là cam kết tự nguyện của chủ đầu tư — không có văn bản nào bắt buộc. Ảnh: Benh Lieu Song / Wikimedia Commons, CC BY-SA 2.0

Trạm, máy phát và tuyến ngầm: việc của bố cục, không của bảng tra

Vì không có con số để tra, ba thứ này được quyết bằng vị trí. Trạm biến áp và máy phát cần đường xe tải vào tới nơi — không phải một lần lúc thi công mà suốt vòng đời, vì máy biến áp và tổ máy đều có ngày phải kéo ra. Đường ấy phải có trên bản vẽ ngay từ tổng mặt bằng, nếu không thì mười năm sau nó sẽ đi xuyên qua một vườn cảnh đã trồng xong.

Với tiếng ồn, cách làm giống hệt cách Phần 12 xử lý tuyến phục vụ: vẽ bán kính ảnh hưởng của từng thiết bị lên mặt bằng rồi xem vòng tròn nào chạm vào buồng ngủ. Danh sách thiết bị cần vẽ vòng gồm máy phát, bơm bể bơi, dàn nóng, quạt hút bếp và tháp giải nhiệt. Cái bẫy là chúng chạy vào đúng giờ khách nghỉ, nên mức ồn trung bình ngày không nói lên điều gì.

Tuyến ngầm thì có một nguyên tắc đắt tiền nếu bỏ qua: gom về một hào kỹ thuật chung, đặt dưới lối đi cứng chứ không dưới thảm cỏ hay gốc cây. Lý do không phải kỹ thuật mà là kinh tế vận hành — mỗi lần sửa một đoạn cáp nằm dưới bãi cỏ là một lần phá và trồng lại phần cảnh quan bên trên. Phần 15 đã nói nửa còn lại của cùng câu chuyện ấy từ phía cái cây: rễ không được vào hào kỹ thuật.

Một hào đất đang thi công với nhiều ống luồn cáp nằm dưới đáy hào, rào chắn công trường dựng hai bên
Gom về một hào kỹ thuật chung đặt dưới lối đi cứng: lý do không phải kỹ thuật mà là kinh tế vận hành — cáp nằm dưới bãi cỏ thì mỗi lần sửa là một lần phá cảnh quan bên trên. Ảnh: Cjp24 / Wikimedia Commons, CC BY-SA 4.0

Chói và bầu trời tối: hai thứ khác nhau, hay bị gộp làm một

Chói là chuyện nguồn sáng lọt vào tầm mắt người đang đi. Nó được giải bằng ba việc rất cụ thể: đèn có chụp che để không nhìn thấy trực tiếp bóng đèn, lắp thấp thay vì lắp cao, và chiếu gián tiếp vào mặt đất hoặc mặt tường thay vì chiếu thẳng vào mắt. Chói là vấn đề của người trong khu.

Bầu trời tối là chuyện ánh sáng thoát lên trên. Nó được giải bằng đúng một nguyên tắc: ánh sáng phải hướng xuống, và mọi tia đi lên đều là tia vừa mất tiền vừa mất sao. Bầu trời tối là vấn đề của cả vùng, và ở khu nghỉ dưỡng xa đô thị thì nó còn là thứ bán được — nhưng như đã nói ở trên, không có văn bản Việt Nam nào bắt buộc.

Hai thứ ấy đôi khi kéo ngược nhau. Đèn rọi cây từ dưới gốc hắt lên là thủ pháp cảnh quan kinh điển, và nó chính là tia đi lên. Cách dung hoà không phải bỏ hẳn mà là khoanh: chỉ rọi ở vài điểm nhấn có người đứng xem, dùng góc chiếu hẹp bám vào tán, và tắt theo giờ — chứ không rọi đều cả trăm gốc suốt đêm.

Một đèn gắn tường chiếu thẳng về phía máy ảnh trong đêm, quầng sáng loang rộng che khuất mọi thứ quanh nó
Chói là chuyện nguồn sáng lọt vào tầm mắt, và nó không giải được bằng cách tăng công suất chỗ khác. Ảnh: tottr / Flickr, CC BY-SA 2.0
Một cây nhỏ được đèn đặt dưới gốc rọi ngược lên tán, nền phía sau tối hoàn toàn
Rọi cây từ dưới gốc là thủ pháp kinh điển và cũng chính là tia đi lên. Cách dung hoà không phải bỏ hẳn mà là khoanh: vài điểm nhấn có người đứng xem, góc chiếu hẹp bám tán, và tắt theo giờ. Ảnh: RBerteig / Flickr, CC BY 2.0

Chỗ giấu cục nóng, ống khói và quạt hút: nhóm chi tiết hỏng mặt đứng nhiều nhất

Đây là nhóm bị bỏ quên nhiều nhất trong hồ sơ cảnh quan, và hậu quả của nó thì nhìn thấy được từ buồng khách. Cục nóng cần chỗ thoát nhiệt thật — che kín bốn mặt bằng lam đặc là cách làm máy chạy nặng hơn và kêu to hơn, tức đổi một vấn đề nhìn thấy lấy hai vấn đề nghe thấy và trả tiền điện.

Cách xử lý gọn là dành sẵn hộp kỹ thuật cho từng cụm buồng ngay từ bước bố cục, và một trục thải riêng cho bếp. Quạt hút bếp và ống khói phải thoát lên cao hơn mái và xuôi theo hướng gió chính, để mùi không tạt vào khu ngủ hay khu hồ bơi — hướng gió chính tra ở QCVN 02:2022/BXD, chính văn bản số liệu khí hậu mà Phần 6 đã dùng.

Một phép thử nhanh dùng được ngay ở bước phương án: đứng ở cửa sổ từng loại buồng, nhìn ra và đếm xem thấy bao nhiêu thiết bị. Con số ấy phải bằng không với buồng hạng cao, và nếu nó không bằng không thì chỗ phải sửa là mặt bằng, không phải cái lam.

Một cụm thiết bị cơ điện đặt trên mái công trình, nhiều hộp máy xếp cạnh nhau với vách lam che phía sau
Cục nóng cần chỗ thoát nhiệt thật: che kín bốn mặt bằng lam đặc là đổi một vấn đề nhìn thấy lấy hai vấn đề nghe thấy và trả tiền điện. Ảnh: 5of7 / Flickr, CC BY-SA 2.0
Dãy tấm pin mặt trời lắp trên mái dốc của một công trình thấp tầng, trời quang
Mặt trời áp mái khả thi ở phần lớn khu nghỉ dưỡng Việt Nam, nhưng nó đòi diện tích mái không bị cây che — tức nó là một ràng buộc của phần cảnh quan, không chỉ của phần điện. Ảnh: Grand Canyon NPS / Flickr, CC BY 2.0

Sáu phép thử cho phần chiếu sáng và cơ điện

1. Bản đồ cấp độ sáng cho toàn khu đã có chưa — tuyến nào sáng mức nào, và chỗ nào cố ý để tối?
2. Mọi bậc thang, chỗ đổi cao độ và chỗ giao cắt đã được nâng lên mức cao nhất chưa, bằng đúng lập luận rằng người ta vấp ở đó chứ không vấp giữa lối đi?
3. Khoảng cách đặt đèn tính theo độ rọi tối thiểu ở điểm tối nhất giữa hai cột, hay chỉ tính theo độ rọi trung bình?
4. Với mỗi con số trong thuyết minh điện cảnh quan: dẫn được số hiệu văn bản, số điều, số bảng không — và văn bản ấy có áp cho loại công trình này không?
5. Bốn chỗ không có quy định Việt Nam đã được ghi thẳng là tự đặt ngưỡng, kèm tài liệu tham chiếu, hay đang được viết như thể có quy định?
6. Vòng ảnh hưởng tiếng ồn của máy phát, bơm bể bơi, dàn nóng, quạt hút bếp và tháp giải nhiệt đã vẽ lên mặt bằng chưa, và vòng nào chạm vào buồng ngủ?

Việc làm được ngay hôm nay mà không cần thêm tài liệu nào: in mặt bằng tổng thể ra, tô ba màu cho ba mức sáng, và khoanh những vùng cố ý để tối. Bản vẽ ấy trả lời được phần lớn câu hỏi ở trên, và nó cũng là bản vẽ khiến người thẩm tra tin rằng phần chiếu sáng đã được nghĩ chứ không phải được rải.

Căn cứ, đối chiếu trên bản quy chuẩn ban hành: QCVN 07-7:2023/BXD — Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình chiếu sáng (thay QCVN 07-7:2016/BXD). Mục 1.1.1 giới hạn phạm vi điều chỉnh ở chiếu sáng đường giao thông đô thị, đường hầm, đường ngầm, các vùng xung đột giao thông, đường trong khu dân cư, trong công viên và vườn hoa, và nơi đón trả khách của sân ga, bến cảng, bến xe, bãi đỗ xe ngoài trời · Mục 1.1.3: trạm biến áp, cột đèn, hệ thống đường dây, tủ điều khiển và thiết bị chiếu sáng không thuộc quy chuẩn này · Bảng 8 (đường đi bộ, xe đạp — mục 3 phân theo lưu lượng người, mục 4 cầu thang bộ và cầu vượt) · Bảng 9 (hầm đi bộ, ban ngày và ban đêm) · Bảng 10mục 2.6.3 (vùng xung đột giao thông) · QCVN 02:2022/BXD về số liệu điều kiện tự nhiên dùng trong xây dựng, dùng để tra hướng gió chính. Bốn chỗ không có văn bản Việt Nam và đã được ghi thẳng trong bài thay vì điền số: giới hạn ô nhiễm ánh sáng; cấp bảo vệ cho đèn ngâm trong bể bơi và đài phun nước; khoảng cách từ trạm biến áp và máy phát tới khu ngủ; mức ồn riêng cho máy phát dự phòng. Bảng độ rọi trong bài được dẫn đúng phạm vi của nó: là tham chiếu cho khuôn viên khu nghỉ dưỡng tư nhân, không phải điều kiện bắt buộc. Ảnh bìa: bờ kè biển Norderney, Đức — Dietmar Rabich / Wikimedia Commons, CC BY-SA 4.0. Nguồn: canhquan.net

25 Lượt xem